Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi bổ cơ thể. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi bổ cơ thể. Hiển thị tất cả bài đăng

Giai đoạn nào cần bồi dưỡng vitamin E đối với cơ thể chuẩn nhất

 Chỉ bổ sung các vitamin A, D, E bằng viên uống theo chỉ định của bác sĩ khi có các dấu hiệu thiếu hụt

Các vitamin tan trong dầu được người tiêu dùng biết đến nhiều nhất là vitamin A, D, E… Chúng có khả năng ở dạng đơn lẻ hoặc phối hợp với các vitamin và khoáng chất khác. Vậy 3 loại vitamin này quan trọng làm sao với cơ thể? Và khi nào cần bổ sung?


Vitamin A: Rất cần thiết cho toàn bộ cơ thể, đóng vai trò chính quan trọng trong hoạt động của thị giác (nếu thiếu sẽ gây bệnh quáng gà, khô mắt, loét giác mạc); trên biểu mô và các tổ chức da, vitamin A (đặc biệt axít retinoic) kích thích biệt hóa tế bào biểu mô, sinh tiết nhầy, ức chế sự sừng hóa tế bào biểu mô. Người thiếu vitamin A dễ bị mẫn cảm với các chất gây ung thư và các tế bào nền của biểu mô ở một số vùng khác nhau tăng sản rõ rệt và giảm khả năng biệt hóa. Tuy nhiên, cơ chế công dụng chống ung thư của vitamin A vẫn chưa được giải thích đầy đủ nhưng có biện pháp vitamin A điều hòa sự sinh tổng hợp protein, đặc biệt cần thiết cho sự biệt hóa tế bào của tổ chức biểu mô này và ức chế sự nhân lên của tế bào ung thư. Trên có chức năng miễn dịch, vitamin A tăng sức đề kháng của toàn bộ cơ thể.


Vitamin A được dùng trong các trường hợp: Bệnh khô mắt, quáng gà, trẻ chậm lớn dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng; bệnh trứng cá, da, tóc, móng khô, bệnh á sừng, bệnh vẩy nến; hỗ trợ trong chữa trị ung thư da, cổ tử cung, đại tràng, phổi và phòng, làm chậm quá trình lão hóa.


Khi cơ thể bị thiếu vitamin A sẽ có các triệu chứng như tăng sừng hóa biểu mô, da khô, thoái hóa tuyến mồ hôi, nhiễm trùng da, quáng gà, khô màng tiếp hợp, khô giác mạc có cơ hội gặp viêm loét giác mạc dễ dẫn đến mù lòa và cơ thể dễ bị nhiễm trùng hô hấp, tiết niệu, sinh dục và chậm lớn, chán ăn...



Vitamin D: Được dùng trong phòng và chống còi xương ở trẻ em, phòng và chống loãng xương, nhuyễn xương ở người lớn, người gãy xương lâu lành; phòng và chống co giật trong suy cận giáp… Vitamin D có tác dụng tăng hấp thu canxi ở ruột và tái hấp thu canxi ở ống thận; phối hợp với hormone cận giáp điều hòa nồng độ canxi trong máu và tăng tích tụ canxi trong xương…


Việc thiếu vitamin D có biện pháp do giảm hấp thu ở ruột, suy cận giáp, dùng thuốc uống ức chế enzym gan, người ít tiếp xúc với nắng. Thiếu vitamin D có dấu hiệu giảm canxi và phosphat trong máu, có cách gặp cơn hạ canxi máu. Thiếu lâu dài gây ra còi xương ở trẻ em và nhuyễn xương ở người lớn.


Vitamin E: Người ta thấy chức năng của vitamin E là làm tăngsản sinh tinh trùng và khả năng thụ thai, làm tổ của trứng đã thụ thai; ngăn cản sự tạo thành gốc tự do, làm vững bền màng tế bào đặc biệt khi có mặt vitamin C và các chất có chứa nhóm SH; tăng hấp thu và dự trữ vitamin A nhưng lại làm giảm những triệu chứng của sự thừa vitamin A... Vì vậy, vitamin E được dùng trong các trường hợp: dọa sẩy thai, chị em bị sẩy thai liên tiếp, vô sinh; teo cơ; thiếu máu, tan máu, bệnh xơ cứng bì ở trẻ em và lipid máu cao... Ngoài ra, vitamin E còn được dùng để tránh lão hóa (thường dùng chế phẩm phối hợp vitamin E với coenzym Q, axít amin chứa lưu huỳnh hoặc β - caroten, vitamin C và selen); cận thị tiến triển do giảm sự ôxy hóa của β- caroten ; chứng đái dầm sau đẻ hoặc rối loạn kinh nguyệt...


Thiếu hụt vitamin E làm cho dài thêm sẽ gây giảm phản xạ, giảm nhạy cảm xúc giác, yếu cơ, teo cơ phì đại, giảm sinh sản tinh trùng, giảm khả năng thụ thai, dọa sẩy thai, đẻ non, tổn thương cơ tim, thiếu máu, tan máu và rung giật nhãn cầu...


Cần lưu ý: Chỉ bồi bổ các vitamin trên bằng thuốc uống (theo chỉ định của bác sĩ) khi có các dấu hiệu thiếu hụt như đã nêu trên. Lý do là khi dùng thừa sẽ tích lũy trong toàn bộ cơ thể gây nên các rối loạn do thừa vitamin. Vì vậy, phải dùng hết sức thận trọng.

 Chỉ bổ sung các vitamin A, D, E bằng viên uống theo chỉ định của bác sĩ khi có các dấu hiệu thiếu hụt

Các vitamin tan trong dầu được người tiêu dùng biết đến nhiều nhất là vitamin A, D, E… Chúng có khả năng ở dạng đơn lẻ hoặc phối hợp với các vitamin và khoáng chất khác. Vậy 3 loại vitamin này quan trọng làm sao với cơ thể? Và khi nào cần bổ sung?


Vitamin A: Rất cần thiết cho toàn bộ cơ thể, đóng vai trò chính quan trọng trong hoạt động của thị giác (nếu thiếu sẽ gây bệnh quáng gà, khô mắt, loét giác mạc); trên biểu mô và các tổ chức da, vitamin A (đặc biệt axít retinoic) kích thích biệt hóa tế bào biểu mô, sinh tiết nhầy, ức chế sự sừng hóa tế bào biểu mô. Người thiếu vitamin A dễ bị mẫn cảm với các chất gây ung thư và các tế bào nền của biểu mô ở một số vùng khác nhau tăng sản rõ rệt và giảm khả năng biệt hóa. Tuy nhiên, cơ chế công dụng chống ung thư của vitamin A vẫn chưa được giải thích đầy đủ nhưng có biện pháp vitamin A điều hòa sự sinh tổng hợp protein, đặc biệt cần thiết cho sự biệt hóa tế bào của tổ chức biểu mô này và ức chế sự nhân lên của tế bào ung thư. Trên có chức năng miễn dịch, vitamin A tăng sức đề kháng của toàn bộ cơ thể.


Vitamin A được dùng trong các trường hợp: Bệnh khô mắt, quáng gà, trẻ chậm lớn dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng; bệnh trứng cá, da, tóc, móng khô, bệnh á sừng, bệnh vẩy nến; hỗ trợ trong chữa trị ung thư da, cổ tử cung, đại tràng, phổi và phòng, làm chậm quá trình lão hóa.


Khi cơ thể bị thiếu vitamin A sẽ có các triệu chứng như tăng sừng hóa biểu mô, da khô, thoái hóa tuyến mồ hôi, nhiễm trùng da, quáng gà, khô màng tiếp hợp, khô giác mạc có cơ hội gặp viêm loét giác mạc dễ dẫn đến mù lòa và cơ thể dễ bị nhiễm trùng hô hấp, tiết niệu, sinh dục và chậm lớn, chán ăn...



Vitamin D: Được dùng trong phòng và chống còi xương ở trẻ em, phòng và chống loãng xương, nhuyễn xương ở người lớn, người gãy xương lâu lành; phòng và chống co giật trong suy cận giáp… Vitamin D có tác dụng tăng hấp thu canxi ở ruột và tái hấp thu canxi ở ống thận; phối hợp với hormone cận giáp điều hòa nồng độ canxi trong máu và tăng tích tụ canxi trong xương…


Việc thiếu vitamin D có biện pháp do giảm hấp thu ở ruột, suy cận giáp, dùng thuốc uống ức chế enzym gan, người ít tiếp xúc với nắng. Thiếu vitamin D có dấu hiệu giảm canxi và phosphat trong máu, có cách gặp cơn hạ canxi máu. Thiếu lâu dài gây ra còi xương ở trẻ em và nhuyễn xương ở người lớn.


Vitamin E: Người ta thấy chức năng của vitamin E là làm tăngsản sinh tinh trùng và khả năng thụ thai, làm tổ của trứng đã thụ thai; ngăn cản sự tạo thành gốc tự do, làm vững bền màng tế bào đặc biệt khi có mặt vitamin C và các chất có chứa nhóm SH; tăng hấp thu và dự trữ vitamin A nhưng lại làm giảm những triệu chứng của sự thừa vitamin A... Vì vậy, vitamin E được dùng trong các trường hợp: dọa sẩy thai, chị em bị sẩy thai liên tiếp, vô sinh; teo cơ; thiếu máu, tan máu, bệnh xơ cứng bì ở trẻ em và lipid máu cao... Ngoài ra, vitamin E còn được dùng để tránh lão hóa (thường dùng chế phẩm phối hợp vitamin E với coenzym Q, axít amin chứa lưu huỳnh hoặc β - caroten, vitamin C và selen); cận thị tiến triển do giảm sự ôxy hóa của β- caroten ; chứng đái dầm sau đẻ hoặc rối loạn kinh nguyệt...


Thiếu hụt vitamin E làm cho dài thêm sẽ gây giảm phản xạ, giảm nhạy cảm xúc giác, yếu cơ, teo cơ phì đại, giảm sinh sản tinh trùng, giảm khả năng thụ thai, dọa sẩy thai, đẻ non, tổn thương cơ tim, thiếu máu, tan máu và rung giật nhãn cầu...


Cần lưu ý: Chỉ bồi bổ các vitamin trên bằng thuốc uống (theo chỉ định của bác sĩ) khi có các dấu hiệu thiếu hụt như đã nêu trên. Lý do là khi dùng thừa sẽ tích lũy trong toàn bộ cơ thể gây nên các rối loạn do thừa vitamin. Vì vậy, phải dùng hết sức thận trọng.

Một số ai trong bạn gái cần cung cấp vitamin B12 cho các bộ phân cơ thể

 Vitamin B12 (viết tắt là B12) đã được biết đến từ lâu. Năm 1948, nhà khoa học Rickes và cộng sự đã phân lập được từ gan một chất kết tinh màu đỏ đặt tên là B12. Những năm sau đó, các công trình tìm hiểu của nhiều nhà khoa học đã phát hiện ra lượng B12 mà các bộ phân cơ thể cần tới mỗi ngày, nó có ở một vài nguồn thức ăn nào và khi cơ thể thiếu B12 thì có một số triệu chứng gì... Mấy năm gần đây lại có thêm một vài nghiên cứu mới bồi dưỡng cho B12.

Trong các bộ phân cơ thể các động vật ăn cỏ, B12 được tổng hợp bởi hệ vi khuẩn đường ruột, sau đó được hấp thu. Hàm lượng B12  tính theo microgam (mcg) có trong 100 gam thực phẩm tươi như sau: thịt bò 2 -8, thận bò 20 -50, gan bò 30 -130, sữa bò 0,2 - 0,6, thịt lợn 0,1 - 5, lòng đỏ trứng 1,2... Các thức ăn thực vật, rau quả hầu như không tưởng B12. Trong thực phẩm, B12 đều ở dạng phức hợp với protein. B12 khá bền vững với nhiệt độ trong nấu ăn, trừ khi trong môi trường kiềm và nhiệt độ quá 100oC. Sữa đun sôi 2 -5 phút mất 30% B12, thịt luộc 45 phút mất khoảng 30% B12...


Thiếu B12 và triệu chứng bệnh


Nhu cầu B12 hàng ngày theo RDA (khẩu phần dinh dưỡng khuyến khích) là 2mcg cho nam và nữ trưởng thành. Phụ nữ có thai và cho con bú thì 2,2mcg.


B12 được hấp thu qua thực phẩm nhờ một yếu tố nội tại chống thiếu máu của dịch vị là gastromucoprotein, nếu thiếu yếu tố này B12 sẽ bị làm biến mất, vì vậy trong điều trị người ta thường dùng B12 dạng thuốc uống tiêm.


Nhân dân thường gọi vitamin là thuốc bổ, vì toàn bộ cơ thể cần có chúng mới duy trì được sức khỏe, nếu thiếu một vitamin nào đó dễ phát sinh bệnh tật. Với B12 cũng vậy, tất cả thiếu B12 ở người là do kém hấp thu B12, do thiếu yếu tố nội tại, hay giảm hoặc mất chức năng hấp thu đặc hiệu của đoạn cuối ruột non. Những người dễ bị thiếu B12 gồm: một vài người ăn chay trường diễn hoàn toàn không ăn thực phẩm nguyên do động vật. Những người bệnh viêm teo niêm mạc dạ dày, hoặc đã phẫu thuật cắt bỏ một phần hay hầu hết dạ dày. Người có bệnh ở ruột non, phần ruột bệnh bao gồm cả phần cuối ruột non như bệnh Sprue, bệnh viêm ruột vùng, đã cắt đoạn ruột hoặc nối tắc ruột.


Nếu thiếu B12  sẽ rối loạn sinh sản máu ở tuỷ xương, tạo ra thiếu máu nguyên bào khổng lồ do hồng cầu không trưởng thành được. Người bệnh xanh xao, dễ mệt yếu, ăn mất ngon, hay hồi hộp "đánh trống ngực", đau đầu, khó thở... Ngoài ra, còn có các biểu hiện về thần kinh như dị cảm (cảm giác tê dần, buồn buồn như kiến bò), giảm cảm giác vị thế (chứng thất điều, đi đứng xiêu vẹo), khả năng trí óc giảm, hạ huyết áp tư thế đứng...



B12 với người bệnh ung thư


B12 đặc biệt có công dụng tốt với nhiều người bệnh, vì nó giúp cho sự phân chia và tái tạo của tổ chức, giúp tổng hợp mạnh protein và chuyển hoá lipid do đó giúp cho sự trưởng thành của cơ thể. B12 tham gia phản ứng tổng hợp thymidylate - một thành phần trong phân tử ADN, bồi bổ nguyên liệu để tổng hợp ADN, góp phần vào quá trình phân chia tế bào và trưởng thành tế bào trong cơ thể. Nhưng với bệnh nhân ung thư thì ngược lại. Bởi người ta thấy được: khối u ác tính có một số biểu hiện sinh hóa của một tổ chức đang phát triển mạnh, tăng những chất protein có trọng lượng phân tử nhỏ, tăng loại acid amin đồng phân D (bình thường phần lớn là đồng phân L), tăng AND và ARN do tăng phân bào và tăng tổng hợp protein. Ngoài ra, còn tăng các acid béo không bão hoà, tăng phospho lipid, lecithine và cholesterol, tăng giáng hóa glucid theo con đường yếm khí...


Với một số nguyên nhân nói trên của khối u ác tính, người ta không muốn "đổ thêm dầu vào lửa", mà khuyên không nên dùng B12  cho người bệnh ung thư, vì nó có biện pháp tăng cường tốc độ phát triển của tế bào ung thư làm cho ung thư phát triển nhanh.


Ngoài ra, B12 còn không được phép dùng cho người bệnh trứng cá, người có tiền sử dị ứng thuốc, người bệnh thiếu máu chưa rõ nguồn gốc.


Một vài nghiên cứu kỹ gần đây


Thiếu B12 và dị tật ở thai nhi


Phụ nữ mang bầu nếu cơ thể thiếu acid folic (còn gọi là vitamin B9) sinh ra con hay bị dị tật nứt đốt sống thần kinh, nhiều người đã biết. Nhưng công trình nghiên cứu đưa tin năm 2004 của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Y khoa Nijmegen, Hà Lan cho biết thêm nếu chỉ riêng acid folic thôi thì chưa đủ, mà phụ nữ có bầu còn cần thêm cả B12. Nghiên cứu được thực hiện trên 45 bà mẹ có con bị nứt đốt sống, so với 83 bà mẹ khác có con không bị dị tật. Kết quả định lượng B12 trong máu đã cho thấy: các bà mẹ có con bị dị tật nứt đốt sống, có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn 21% so với các bà mẹ kia. Họ cũng cho biết, nếu thiếu B12 trầm trọng, tỉ lệ mắc dị tật này có giải pháp tăng lên gấp 3 lần.


B12 và não người cao tuổi


Các nhà tìm hiểu thuộc Trường đại học Oxford, Anh mới đây đã thông báo một kết quả nghiên cứu kỹ về ảnh hưởng của B12  đến não người cao tuổi. Họ đã nghiên cứu định lượng B12 trong máu của 1.000 người có độ tuổi từ 61 - 87, chụp cắt lớp não, kiểm tra trí nhớ. Những người này được theo dõi trong 5 năm. Kết quả thấy rằng một số người được cung cấp B12, hoặc có hàm lượng B12 trong máu cao thì khối lượng não bị teo (kích thước não nhỏ dần theo tuổi ở người già) chỉ bằng 1/6 một số người già có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn. Theo các nhà nghiên cứu công trình này thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và có trách nhiệm của não mà ta không thể kiểm soát được. Họ khuyên chỉ cần sửa đổi trong chế độ ăn bao gồm việc làm tăng các loại thức ăn giàu B12 có cách giúp kìm hãm teo não ở người cao tuổi và cải thiện trí nhớ môt cách rất đáng khích lệ.

 Vitamin B12 (viết tắt là B12) đã được biết đến từ lâu. Năm 1948, nhà khoa học Rickes và cộng sự đã phân lập được từ gan một chất kết tinh màu đỏ đặt tên là B12. Những năm sau đó, các công trình tìm hiểu của nhiều nhà khoa học đã phát hiện ra lượng B12 mà các bộ phân cơ thể cần tới mỗi ngày, nó có ở một vài nguồn thức ăn nào và khi cơ thể thiếu B12 thì có một số triệu chứng gì... Mấy năm gần đây lại có thêm một vài nghiên cứu mới bồi dưỡng cho B12.

Trong các bộ phân cơ thể các động vật ăn cỏ, B12 được tổng hợp bởi hệ vi khuẩn đường ruột, sau đó được hấp thu. Hàm lượng B12  tính theo microgam (mcg) có trong 100 gam thực phẩm tươi như sau: thịt bò 2 -8, thận bò 20 -50, gan bò 30 -130, sữa bò 0,2 - 0,6, thịt lợn 0,1 - 5, lòng đỏ trứng 1,2... Các thức ăn thực vật, rau quả hầu như không tưởng B12. Trong thực phẩm, B12 đều ở dạng phức hợp với protein. B12 khá bền vững với nhiệt độ trong nấu ăn, trừ khi trong môi trường kiềm và nhiệt độ quá 100oC. Sữa đun sôi 2 -5 phút mất 30% B12, thịt luộc 45 phút mất khoảng 30% B12...


Thiếu B12 và triệu chứng bệnh


Nhu cầu B12 hàng ngày theo RDA (khẩu phần dinh dưỡng khuyến khích) là 2mcg cho nam và nữ trưởng thành. Phụ nữ có thai và cho con bú thì 2,2mcg.


B12 được hấp thu qua thực phẩm nhờ một yếu tố nội tại chống thiếu máu của dịch vị là gastromucoprotein, nếu thiếu yếu tố này B12 sẽ bị làm biến mất, vì vậy trong điều trị người ta thường dùng B12 dạng thuốc uống tiêm.


Nhân dân thường gọi vitamin là thuốc bổ, vì toàn bộ cơ thể cần có chúng mới duy trì được sức khỏe, nếu thiếu một vitamin nào đó dễ phát sinh bệnh tật. Với B12 cũng vậy, tất cả thiếu B12 ở người là do kém hấp thu B12, do thiếu yếu tố nội tại, hay giảm hoặc mất chức năng hấp thu đặc hiệu của đoạn cuối ruột non. Những người dễ bị thiếu B12 gồm: một vài người ăn chay trường diễn hoàn toàn không ăn thực phẩm nguyên do động vật. Những người bệnh viêm teo niêm mạc dạ dày, hoặc đã phẫu thuật cắt bỏ một phần hay hầu hết dạ dày. Người có bệnh ở ruột non, phần ruột bệnh bao gồm cả phần cuối ruột non như bệnh Sprue, bệnh viêm ruột vùng, đã cắt đoạn ruột hoặc nối tắc ruột.


Nếu thiếu B12  sẽ rối loạn sinh sản máu ở tuỷ xương, tạo ra thiếu máu nguyên bào khổng lồ do hồng cầu không trưởng thành được. Người bệnh xanh xao, dễ mệt yếu, ăn mất ngon, hay hồi hộp "đánh trống ngực", đau đầu, khó thở... Ngoài ra, còn có các biểu hiện về thần kinh như dị cảm (cảm giác tê dần, buồn buồn như kiến bò), giảm cảm giác vị thế (chứng thất điều, đi đứng xiêu vẹo), khả năng trí óc giảm, hạ huyết áp tư thế đứng...



B12 với người bệnh ung thư


B12 đặc biệt có công dụng tốt với nhiều người bệnh, vì nó giúp cho sự phân chia và tái tạo của tổ chức, giúp tổng hợp mạnh protein và chuyển hoá lipid do đó giúp cho sự trưởng thành của cơ thể. B12 tham gia phản ứng tổng hợp thymidylate - một thành phần trong phân tử ADN, bồi bổ nguyên liệu để tổng hợp ADN, góp phần vào quá trình phân chia tế bào và trưởng thành tế bào trong cơ thể. Nhưng với bệnh nhân ung thư thì ngược lại. Bởi người ta thấy được: khối u ác tính có một số biểu hiện sinh hóa của một tổ chức đang phát triển mạnh, tăng những chất protein có trọng lượng phân tử nhỏ, tăng loại acid amin đồng phân D (bình thường phần lớn là đồng phân L), tăng AND và ARN do tăng phân bào và tăng tổng hợp protein. Ngoài ra, còn tăng các acid béo không bão hoà, tăng phospho lipid, lecithine và cholesterol, tăng giáng hóa glucid theo con đường yếm khí...


Với một số nguyên nhân nói trên của khối u ác tính, người ta không muốn "đổ thêm dầu vào lửa", mà khuyên không nên dùng B12  cho người bệnh ung thư, vì nó có biện pháp tăng cường tốc độ phát triển của tế bào ung thư làm cho ung thư phát triển nhanh.


Ngoài ra, B12 còn không được phép dùng cho người bệnh trứng cá, người có tiền sử dị ứng thuốc, người bệnh thiếu máu chưa rõ nguồn gốc.


Một vài nghiên cứu kỹ gần đây


Thiếu B12 và dị tật ở thai nhi


Phụ nữ mang bầu nếu cơ thể thiếu acid folic (còn gọi là vitamin B9) sinh ra con hay bị dị tật nứt đốt sống thần kinh, nhiều người đã biết. Nhưng công trình nghiên cứu đưa tin năm 2004 của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Y khoa Nijmegen, Hà Lan cho biết thêm nếu chỉ riêng acid folic thôi thì chưa đủ, mà phụ nữ có bầu còn cần thêm cả B12. Nghiên cứu được thực hiện trên 45 bà mẹ có con bị nứt đốt sống, so với 83 bà mẹ khác có con không bị dị tật. Kết quả định lượng B12 trong máu đã cho thấy: các bà mẹ có con bị dị tật nứt đốt sống, có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn 21% so với các bà mẹ kia. Họ cũng cho biết, nếu thiếu B12 trầm trọng, tỉ lệ mắc dị tật này có giải pháp tăng lên gấp 3 lần.


B12 và não người cao tuổi


Các nhà tìm hiểu thuộc Trường đại học Oxford, Anh mới đây đã thông báo một kết quả nghiên cứu kỹ về ảnh hưởng của B12  đến não người cao tuổi. Họ đã nghiên cứu định lượng B12 trong máu của 1.000 người có độ tuổi từ 61 - 87, chụp cắt lớp não, kiểm tra trí nhớ. Những người này được theo dõi trong 5 năm. Kết quả thấy rằng một số người được cung cấp B12, hoặc có hàm lượng B12 trong máu cao thì khối lượng não bị teo (kích thước não nhỏ dần theo tuổi ở người già) chỉ bằng 1/6 một số người già có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn. Theo các nhà nghiên cứu công trình này thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và có trách nhiệm của não mà ta không thể kiểm soát được. Họ khuyên chỉ cần sửa đổi trong chế độ ăn bao gồm việc làm tăng các loại thức ăn giàu B12 có cách giúp kìm hãm teo não ở người cao tuổi và cải thiện trí nhớ môt cách rất đáng khích lệ.

Tìm hiểu về việc bổ sung canxi để giúp bé tăng trưởng chiều cao nhanh nhất

Bổ sung canxi là việc mỗi người đều biết nhưng có phải ai cũng hiểu cách cung cấp canxi một cách khoa học? 10 câu hỏi đi kèm giải đáp sau đây sẽ giúp bạn.
Có thể có được canxi từ trong rau không?
Đáp án: Có thể. Chúng ta đều biết uống sữa bổ canxi nhưng lại ít người biết rằng nhiều loại rau xanh như cải ngồng, cải bắp, cải xanh cũng có không ít canxi.
Các đồ hộp từ cá cũng chứa canxi vì xay nhuyễn xương trong đó, ví dụ như cá hồi, cá mòi. Nếu không dung nạp đủ canxi, nguy cơ loãng xương sẽ tìm đến làm phiền trẻ.
10 thắc mắc về cung cấp canxi, tăng chiều cao đối với bé Trẻ trong bào thai có lấy canxi từ toàn bộ cơ thể mẹ không?

Có thể. Thai nhi trong tử cung dần dần lớn lên và cần nhiều canxi để kiến tạo xương, đặc biệt là thai nhi sau 3 tháng. Nếu bà bầu chưa dung nạp đầy đủ canxi, thai nhi sẽ giành hết canxi trong xương của mẹ. Vì vậy, bà bầu và thời kỳ đối với con bú cần ăn nhiều thực phẩm chứa canxi, cũng có thể uống viên bồi bổ canxi theo chỉ dẫn của bác sỹ. Tuy nhiên, có một thông tin tốt là, canxi mất đi trong giai đoạn bầu và đối với con bú có thể hồi phục sau này.
Giảm dung nạp canxi giúp phòng chống sỏi thận không?
Không thể. Mặc dù bệnh sỏi thận là do canxi oxalate cấu thành, nhưng canxi trong thực phẩm không phải là nguồn gốc dẫn đến sỏi thận. Tuy nhiên, cung cấp quá nhiều canxi sẽ tăng nguy cơ sỏi thận. Vì vậy, phòng tránh bệnh sỏi thận nên bồi bổ lượng canxi thích hợp, không nên quá nhiều hay quá ít.
10 thắc mắc về bổ sung canxi, tăng chiều cao cho bé


Canxi trong loại sữa nào nhiều nhất?



Sữa chua. Sữa chua nhiều canxi hơn phomat. Một cốc khoảng 227g sữa chua có thể bồi dưỡng 1/3 lượng canxi cần mỗi ngày đối với cơ thể. Nước cam, sữa đậu nành cũng là nguồn canxi dạng mềm tốt. Khi uống các đồ uống có canxi mềm hóa, không nên quên lắc đều trước, bởi vì chất canxi thông thường sẽ đọng ở đáy hộp.


Độ tuổi nào cần canxi nhiều nhất?
Thanh thiếu niên. Thanh thiếu niên từ 10 -20 tuổi xương cốt phát triển rất nhanh, lúc này cần nhiều canxi, mỗi ngày ít nhất dung nạp 1300mg. Tức là mỗi ngày 2 cốc sữa, 1 cốc nước cam mềm hóa canxi hoặc 1 cốc sữa đậu cao canxi, 1 cốc sữa chua là đủ. Người trưởng thành thông thường cần ít canxi hơn, khoảng 1000mg/ngày.



Hàng ngày đều mất canxi trong cơ thể phải không?
Đúng thế. Canxi là một trong một số khoáng chất quan trọng nhất của cơ thể, đa phần đều tích tụ ở trong xương và răng. Tuy nhiên mỗi ngày da đều trao đổi chất, ra mồ hôi, rụng tóc… để tổn hại đến canxi trong cơ thể. Cơ thể không thể tự sinh ra canxi, vì vậy cần dung nạp đủ lượng canxi từ thức ăn và viên bồi dưỡng canxi.


Canxi ở trong cơ thể có tác dụng mạnh khỏe xương cốt hay bảo vệ hệ miễn dịch?
Mạnh khỏe xương cốt. Cơ thể cần canxi để kiến tạo xương và giữ mạnh khỏe cho xương. Canxi còn các có trách nhiệm sinh lý khác như vận động cơ bắp trong cơ thể, truyền gửi tín hiệu của thần kinh. Ngoài ra còn trợ giúp vận chuyển máu, giúp giải phóng hoocmon và protein.


Kali, vitamin C hay D giúp hấp thụ canxi?
Vitamin D. Vitamin D là chị em song hành tuyệt vời của canxi. Nếu không có vitamin D, bản thân các bộ phân cơ thể không thể hấp thụ canxi, tắm nắng là cách quan trọng bổ sung thêm dưỡng chất vitamin D. Cá béo như cá hồi, cá ngừ đều giàu vitamin D. Rất nhiều người cần uống viên cung cấp canxi nhưng nên theo chỉ dẫn của bác sỹ.


Hàng ngày đều uống viên canxi cùng với bữa ăn?
Sai. Không phải toàn bộ viên bồi bổ canxi đều uống cùng với bữa ăn. Loại thuốc uống canxi phổ biến nhất là canxi cacbonat và canxi citrate. Giá tiền của canxi cacbonat rẻ, uống cùng với bữa ăn có kết quả tốt tốt hơn. Canxi citrate không thể uống cùng với bữa ăn.


Lượng viên canxi càng lớn, sự hấp thụ càng nhiều?
Sai. Uống viên bổ sung canxi nhiều không có lợi ích gì. Mỗi ngày chỉ cần uống 500mg là có tỉ lệ hấp thụ cao nhất

Bổ sung canxi là việc mỗi người đều biết nhưng có phải ai cũng hiểu cách cung cấp canxi một cách khoa học? 10 câu hỏi đi kèm giải đáp sau đây sẽ giúp bạn.
Có thể có được canxi từ trong rau không?
Đáp án: Có thể. Chúng ta đều biết uống sữa bổ canxi nhưng lại ít người biết rằng nhiều loại rau xanh như cải ngồng, cải bắp, cải xanh cũng có không ít canxi.
Các đồ hộp từ cá cũng chứa canxi vì xay nhuyễn xương trong đó, ví dụ như cá hồi, cá mòi. Nếu không dung nạp đủ canxi, nguy cơ loãng xương sẽ tìm đến làm phiền trẻ.
10 thắc mắc về cung cấp canxi, tăng chiều cao đối với bé Trẻ trong bào thai có lấy canxi từ toàn bộ cơ thể mẹ không?

Có thể. Thai nhi trong tử cung dần dần lớn lên và cần nhiều canxi để kiến tạo xương, đặc biệt là thai nhi sau 3 tháng. Nếu bà bầu chưa dung nạp đầy đủ canxi, thai nhi sẽ giành hết canxi trong xương của mẹ. Vì vậy, bà bầu và thời kỳ đối với con bú cần ăn nhiều thực phẩm chứa canxi, cũng có thể uống viên bồi bổ canxi theo chỉ dẫn của bác sỹ. Tuy nhiên, có một thông tin tốt là, canxi mất đi trong giai đoạn bầu và đối với con bú có thể hồi phục sau này.
Giảm dung nạp canxi giúp phòng chống sỏi thận không?
Không thể. Mặc dù bệnh sỏi thận là do canxi oxalate cấu thành, nhưng canxi trong thực phẩm không phải là nguồn gốc dẫn đến sỏi thận. Tuy nhiên, cung cấp quá nhiều canxi sẽ tăng nguy cơ sỏi thận. Vì vậy, phòng tránh bệnh sỏi thận nên bồi bổ lượng canxi thích hợp, không nên quá nhiều hay quá ít.
10 thắc mắc về bổ sung canxi, tăng chiều cao cho bé


Canxi trong loại sữa nào nhiều nhất?



Sữa chua. Sữa chua nhiều canxi hơn phomat. Một cốc khoảng 227g sữa chua có thể bồi dưỡng 1/3 lượng canxi cần mỗi ngày đối với cơ thể. Nước cam, sữa đậu nành cũng là nguồn canxi dạng mềm tốt. Khi uống các đồ uống có canxi mềm hóa, không nên quên lắc đều trước, bởi vì chất canxi thông thường sẽ đọng ở đáy hộp.


Độ tuổi nào cần canxi nhiều nhất?
Thanh thiếu niên. Thanh thiếu niên từ 10 -20 tuổi xương cốt phát triển rất nhanh, lúc này cần nhiều canxi, mỗi ngày ít nhất dung nạp 1300mg. Tức là mỗi ngày 2 cốc sữa, 1 cốc nước cam mềm hóa canxi hoặc 1 cốc sữa đậu cao canxi, 1 cốc sữa chua là đủ. Người trưởng thành thông thường cần ít canxi hơn, khoảng 1000mg/ngày.



Hàng ngày đều mất canxi trong cơ thể phải không?
Đúng thế. Canxi là một trong một số khoáng chất quan trọng nhất của cơ thể, đa phần đều tích tụ ở trong xương và răng. Tuy nhiên mỗi ngày da đều trao đổi chất, ra mồ hôi, rụng tóc… để tổn hại đến canxi trong cơ thể. Cơ thể không thể tự sinh ra canxi, vì vậy cần dung nạp đủ lượng canxi từ thức ăn và viên bồi dưỡng canxi.


Canxi ở trong cơ thể có tác dụng mạnh khỏe xương cốt hay bảo vệ hệ miễn dịch?
Mạnh khỏe xương cốt. Cơ thể cần canxi để kiến tạo xương và giữ mạnh khỏe cho xương. Canxi còn các có trách nhiệm sinh lý khác như vận động cơ bắp trong cơ thể, truyền gửi tín hiệu của thần kinh. Ngoài ra còn trợ giúp vận chuyển máu, giúp giải phóng hoocmon và protein.


Kali, vitamin C hay D giúp hấp thụ canxi?
Vitamin D. Vitamin D là chị em song hành tuyệt vời của canxi. Nếu không có vitamin D, bản thân các bộ phân cơ thể không thể hấp thụ canxi, tắm nắng là cách quan trọng bổ sung thêm dưỡng chất vitamin D. Cá béo như cá hồi, cá ngừ đều giàu vitamin D. Rất nhiều người cần uống viên cung cấp canxi nhưng nên theo chỉ dẫn của bác sỹ.


Hàng ngày đều uống viên canxi cùng với bữa ăn?
Sai. Không phải toàn bộ viên bồi bổ canxi đều uống cùng với bữa ăn. Loại thuốc uống canxi phổ biến nhất là canxi cacbonat và canxi citrate. Giá tiền của canxi cacbonat rẻ, uống cùng với bữa ăn có kết quả tốt tốt hơn. Canxi citrate không thể uống cùng với bữa ăn.


Lượng viên canxi càng lớn, sự hấp thụ càng nhiều?
Sai. Uống viên bổ sung canxi nhiều không có lợi ích gì. Mỗi ngày chỉ cần uống 500mg là có tỉ lệ hấp thụ cao nhất

 
2012 THUỐC MỌC DÀI LÔNG MI | Blogger Templates for HostGator Coupon Code Sponsors: WooThemes Coupon Code, Rockable Press Discount Code | Distributed By: BloggerBulk